Điền nhãn bản đồ và sơ đồ
Dạng thắng thua trước khi băng chạy: nếu bạn chưa xác định được hướng, hai câu đầu đã mất.
Thứ tự chính là nội dung. Cùng những lời khuyên này, làm theo trình tự khác, thường không dùng được.
Trong ba mươi giây đầu, khoanh tròn “You are here”, cổng vào, hoặc mũi tên chỉ bắc. Người nói sẽ mô tả đường đi từ một điểm, và nếu bạn chưa biết điểm đó ở đâu thì hai câu đầu đã trôi.
Những nhãn đã in sẵn là mốc để người nói định vị: “opposite the library”, “just past the car park”. Nếu bạn chưa quen mặt chúng, bạn sẽ mất một nhịp mỗi lần chúng được nhắc tới.
Thực sự đặt ngón tay lên bản đồ và di chuyển theo lời mô tả. Nghe thì trẻ con, nhưng nó chuyển việc theo dõi vị trí ra khỏi trí nhớ làm việc — và trí nhớ làm việc là thứ đang khan hiếm nhất lúc đó.
Đây là dạng duy nhất mà một danh sách từ vựng ngắn thực sự quyết định điểm số, vì các cụm này xuất hiện gần như nguyên văn và bạn không có thời gian dịch.
opposite (đối diện), adjacent to (kề bên), alongside (dọc theo), between (giữa hai), at the far end of (ở tận cuối), in the corner (ở góc), set back from (lùi vào so với).
head north (đi về phía bắc), turn left at (rẽ trái ở), go past (đi qua), take the second turning (rẽ ở lối thứ hai), follow the path round (đi men theo lối).
“past the library” là ĐI QUA rồi tiếp tục, còn “to the library” là tới đó rồi dừng. Và “on your right” khác “to the right of the entrance” — một cái phụ thuộc vào bạn đang quay mặt hướng nào, cái kia không.
Dùng ba mươi giây chuẩn bị để đọc các phương án chữ cái.
Cái giáChữ cái không mang thông tin gì. Thời gian đó phải dành cho việc định vị điểm xuất phát và làm quen các nhãn đã in sẵn.
Làm thayKhoanh điểm xuất phát, xác định hướng bắc nếu có, và đọc lướt mọi nhãn đã in trên hình.
Cố hiểu từng chữ thay vì bám theo đường đi.
Cái giáBạn tụt lại một nhịp và không bao giờ đuổi kịp, vì mọi mô tả sau đó đều tính từ vị trí bạn đã bỏ lỡ.
Làm thayĐặt ngón tay lên hình và di chuyển theo. Nếu mất dấu, nhảy tới nhãn in sẵn tiếp theo được nhắc tới và bắt lại từ đó.